Nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất

Thứ sáu - 04/10/2019 08:05 62 0
Tạm hoãn xuất cảnh là vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, liên quan đến quốc phòng, an ninh, sức khỏe cộng đồng nói chung và hiệu quả thi hành án nói riêng. Tuy nhiên, hiện các quy định nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, lại chưa có sự thống nhất.
Vướng đủ đường

 

Điều 21, Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17.8.2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam quy định, các trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh là đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự; đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế… Nhưng, Luật Thi hành án dân sự chưa có quy định về vấn đề tạm hoãn xuất cảnh đối với người phải thi hành án, mới chỉ dừng lại ở quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về thi hành án theo thẩm quyền. Điều đáng nói, luật không quy định nhưng nghị định hướng dẫn chi tiết thì lại quy định, cụ thể tại Khoản 2, Điều 51, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự quy định về các trường hợp người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh.

hghh
Thủ tục xuất nhập cảnh    Nguồn: ITN

Đại diện Cục Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh nêu vướng mắc, theo quy định tại, Khoản 1, Điều 51, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì đối với cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định, việc tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, quá trình thi hành gặp rất nhiều vướng mắc, nhất là đối với trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, việc cập nhật thông tin không kịp thời, sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng chưa có quy định cụ thể, từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thi hành án và quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự. Hơn nữa, căn cứ vào những quy định pháp luật kinh tế, doanh nghiệp, thủ trưởng cơ quan thi hành án không có thẩm quyền ngăn chặn việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mà chỉ có thẩm quyền ban hành quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật.

Đó là đối với công dân Việt Nam, còn đối với việc tạm hoãn xuất cảnh liên quan đến người nước ngoài tại Việt Nam, còn nhiều quy định vướng mắc, gây khó cho chính cơ quan quản lý hơn nữa. Điều 28, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh quy định về các trường hợp người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trong đó người nước ngoài đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh; thời hạn tạm hoãn xuất cảnh là không quá 3 năm và có thể gia hạn. Đại diện Tổng cục Thi hành án dân sự cho biết, quy định thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá 3 năm và có thể gia hạn đã phát sinh không ít bất cập. Cụ thể, khi thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh mà thời hạn cư trú tại Việt Nam đã hết hoặc đã chấp hành xong hình phạt tù thì người bị hạn chế xuất cảnh đó phải cư trú tại đâu để bảo đảm cho việc thi hành án? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời, nhất là khi người đó hoàn toàn không có tài sản để thi hành các nghĩa vụ dân sự.

Thiếu phối hợp, thiếu thông tin

Hiện nay, Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp đang tổ chức tổng kết, sửa đổi, bổ sung Nghị định 62/2015. Đây là dịp các để bộ, ngành liên quan rà soát các văn bản pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự, trong đó có quy định đến tạm hoãn xuất cảnh.

Đại diện Cục Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh đề xuất, cần bổ sung quy định trong trường hợp doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức là người phải thi hành án thì phải thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật cho cơ quan thi hành án ngay từ khi bắt đầu đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền. Để làm được điều này cần có sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan chuyên môn. Liên quan đến vấn đề này, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2015/NĐ-CP về quy chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó quy định rõ về hình thức phối hợp, nội dung và trách nhiệm phối hợp của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tuy nhiên đến thời điểm này việc đánh giá hiệu quả công tác phối hợp này chưa được thực hiện. Và trên thực tế thì cơ quan thi hành án dân sự thiếu những thông tin cần thiết liên quan và thường rơi vào tình trạng “thiếu thì đi xin”.

Bên cạnh đề xuất trên, đại diện nhiều Cục Thi hành án dân sự cũng cho rằng, Luật Doanh nghiệp, Luật Thi hành án dân sự cũng nên bổ sung quy định hạn chế việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trong trường hợp cơ quan, tổ chức đó đang là người phải thi hành án, nhất là trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan tổ chức đó đang bị cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp thi hành án như đang có quyết định tạm hoãn xuất cảnh, đang bị áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế…

Tác giả bài viết: Nguyễn Minh

Nguồn tin: daibieunhandan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết này:

  Ý kiến bạn đọc

long hai
ACB
Qc
toan cau
CNTT
ngaymoionline logo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây