Bảo lãnh và mức phạt

Thứ năm - 05/09/2019 22:01 64 0
Một trong những điểm mới của dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính là mở rộng phạm vi đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ.
Cụ thể, Điều 15 sửa đổi, bổ sung các quy định thẩm quyền, trình tự giải quyết đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính; chế độ quản lý phương tiện trong thời gian giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản; khấu trừ tiền đặt bảo lãnh; các trường hợp không được đặt tiền bảo lãnh. Các phương tiện giao thông bị tạm giữ hành chính có thể được đặt tiền bảo lãnh nếu cá nhân vi phạm có giấy tờ xác nhận nơi công tác, địa chỉ thường trú rõ ràng, có nơi giữ, bảo quản phương tiện đáp ứng các điều kiện quy định, có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh.

Như vậy, so với quy định cũ, phạm vi áp dụng hình thức đặt tiền bảo lãnh đã được mở rộng, nhằm hạn chế việc cơ quan có thẩm quyền phải quản lý, bảo quản quá nhiều phương tiện vi phạm bị tạm giữ, đồng thời cũng cần quy định cụ thể hơn nữa về điều kiện, trình tự, thủ tục đặt tiền bảo lãnh để thuận tiện áp dụng. Ngoài ra, dự thảo cũng đã xử lý các tình huống khi đến thời hạn chấp hành quyết định xử phạt nhưng người vi phạm không đến giải quyết thì số tiền đặt bảo lãnh được xử lý theo trình tự, thủ tục như thế nào hoặc khi nào thì xác định trường hợp được đặt tiền bảo lãnh đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

Theo thống kê của Bộ Công an, sau 5 năm thi hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, cơ quan chức năng đã tạm giữ, tịch thu 17,46 triệu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong đó, đã trả lại 4.056 triệu tang vật, phương tiện cho chủ sở hữu; chuyển điều tra, xác minh gần 190.000 tang vật, phương tiện; tiêu hủy 5.04 triệu tang vật, phương tiện và bán sung công quỹ nhà nước 5.065 triệu tang vật, phương tiện, nộp vào ngân sách hơn 1.940 tỷ đồng. Thực tiễn thực hiện văn bản này cũng cho thấy, tại rất nhiều địa phương quy định này dường như không phát huy được hiệu quả, mặc dù rất thuận tiện cho cơ quan quản lý và người dân. Một trong những nguyên nhân được đề cập tới, đó chính là chưa có hướng dẫn thống nhất, đặc biệt là thời gian và cách thức xử lý đối với số tiền nộp bảo lãnh còn thừa trong trường hợp người vi phạm không đến cơ quan công an để chấp hành quyết định xử phạt. Hơn nữa, quy định người dân bảo lãnh xe về lại không được phép lưu hành, trong khi đó thời hạn tạm giữ xe đối với các hành vi vi phạm về giao thông hiện nay rút ngắn lại chỉ còn 7 ngày kể từ ngày tạm giữ (thay vì trước đây là 15 ngày).

Chính vì thế nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh việc hoàn thiện quy định đặt tiền bảo lãnh thì cũng cần rà soát bỏ bớt các lỗi phải tạm giữ xe (chỉ nên tạm giữ xe với các trường hợp là tang vật trong các vụ án liên quan đến giao thông hoặc tổ chức đua xe trái phép, đánh bạc dưới hình thức đua xe); đồng thời tăng mức phạt tiền để bảo đảm tính răng đe. Có thể thấy được nỗ lực của các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện thể chế cũng như cách thức tổ chức triển khai, tuy nhiên một vấn đề khác phát sinh từ quy định này cũng chưa xử lý triệt để. Đó là việc xử lý những phương tiện tự bảo lãnh nhưng vẫn tham gia giao thông. Hiện, việc phát hiện xe đang “được bảo lãnh” tham gia giao thông chỉ thông qua hoạt động kiểm tra đột xuất. Chính vì thế, các bộ, ngành liên quan cần sớm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu an toàn giao thông quốc gia, trong đó có thông tin các phương tiện giao thông vi phạm.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Minh

Nguồn tin: daibieunhandan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Chia sẻ bài viết này:

  Ý kiến bạn đọc

long hai
ACB
Qc
CNTT
toan cau
ngaymoionline logo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây